Banner Top

2021-01-22 Bài 12: Học thuyết Xã hội và hoạt động của Giáo hội

I. HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ TRONG LĨNH VỰC XÃ HỘI


HỌC THUYẾT XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO HỘI


a. Học thuyết xã hội và sự hội nhập văn hoá bằng lòng tin


521. Nhận thức được sức mạnh của Kitô giáo có thể canh tân những thực tại văn hoá và xã hội 1105, Giáo Hội góp phần giáo huấn của mình vào việc xây dựng cộng đồng nhân loại qua việc nói lên ý nghĩa xã hội của Tin Mừng1106. Vào cuối thế kỷ XIX, Huấn Quyền Giáo Hội đã đề cập một cách có hệ thống đến những vấn đề xã hội cấp bách của thời đại, tạo ra “một mẫu mực lâu bền cho Giáo Hội. Quả thật, Giáo Hội có những điều cần phải nói về những tình trạng nhân sinh đặc thù của cá nhân và cộng đồng, của quốc gia và quốc tế. Giáo Hội hình thành một học thuyết đích thực về những tình trạng ấy, một bộ sưu tập (corpus) có khả năng giúp Giáo Hội phân tích những thực tại xã hội, phê phán các thực tại ấy và đưa ra những phương hướng cần phải theo để đạt được những giải pháp công bằng cho những vấn đề có liên quan”1107. Sự can thiệp của Đức Giáo hoàng Lêô XIII vào thực tại xã hội và chính trị của thời đại ngài với Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự) “đã làm cho Giáo Hội có được ‘địa vị công dân’ như trước đây Giáo Hội vẫn từng là giữa những thực tại thay đổi của đời sống công cộng, và thế đứng này về sau này càng được khẳng định cách đầy đủ hơn”1108.


522. Trong học thuyết xã hội của mình, Giáo Hội trước tiên đưa ra một cái nhìn tổng thể về con người và một sự am hiểu trọn vẹn về những chiều hướng cá nhân và xã hội của con người. Khoa nhân học Kitô giáo tỏ cho thấy phẩm giá không thể bị tước đoạt của mỗi con người và đặt những thực tại của lao động, kinh tế và chính trị vào trong một viễn tượng nguyên thuỷ, làm toả sáng những giá trị nhân bản đích thực, đồng thời gợi hứng và nâng đỡ nhiệm vụ chứng nhân của Kitô hữu trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cá nhân, đời sống văn hoá và xã hội. Nhờ vào “những hoa quả đầu mùa của Thánh Thần” (Rm 8,23)1109, các Kitô hữu trở nên người “có khả năng thể hiện luật mới về tình yêu” (x. Rm 8,1-11). Qua Thánh Thần, Đấng “bảo đảm cho phần gia nghiệp của chúng ta” (Ep 1,14), toàn thể con người được đổi mới từ bên trong, hướng đến cả việc hoàn thành “sự cứu chuộc của thân xác”. Theo ý nghĩa đó, học thuyết xã hội của Giáo Hội chỉ cho thấy nền tảng luân lý của mọi hoạt động xã hội là nhắm vào sự phát triển mang tính nhân bản của con người và chuẩn mực của hoạt động xã hội là phải phù hợp với thiện ích đích thực của nhân loại, và học thuyết này được coi như những nỗ lực nhằm mục đích tạo ra những điều kiện cho phép mỗi người thể hiện được thiên chức trọn vẹn của mình.


523. Nhân học Kitô giáo này đem lại sức sống và nâng đỡ cho nhiệm vụ mục vụ của người tín hữu là việc hội nhập văn hoá bằng lòng tin, mà mục đích của nó là đổi mới tự bên trong – nhờ sức mạnh của Tin Mừng – những tiêu chuẩn phán đoán của con người hiện đại, đổi mới những giá trị ẩn bên trong các quyết định của họ, đổi mới cách thức họ suy nghĩ và những kiểu mẫu mà cuộc sống họ đang rập khuôn theo đó. “Về phần Giáo Hội, thông qua việc hội nhập này, Giáo Hội trở nên một dấu hiệu để người ta có thể dễ dàng nhận ra Giáo Hội là gì và trở nên một công cụ hữu hiệu hơn cho sứ mạng”1110. Thế giới hiện nay đang thấy rõ dấu hiệu có sự rạn nứt giữa Tin Mừng và văn hoá, do một cách nhìn quá trần tục về sự cứu độ, điều này dẫn đến khuynh hướng giản lược Kitô giáo thành “một sự khôn ngoan đơn thuần của con người, một loại khoa học giả tạo về hạnh phúc”1111. Giáo Hội ý thức rằng cần phải thực hiện “một bước tiến khổng lồ trong nỗ lực Phúc Âm hoá của mình, và phải bước vào một giai đoạn lịch sử mới trong sự năng động truyền giáo của mình”1112. Học thuyết xã hội của Giáo Hội được đặt trong hướng nhìn mục vụ này: “Công cuộc ‘tân Phúc Âm hoá’, một nhu cầu cấp bách cho thế giới ngày hôm nay,… cần phải bao gồm một trong những yếu tố thiết yếu là công bố học thuyết xã hội của Giáo Hội”1113.


b. Học thuyết xã hội và hoạt động mục vụ xã hội


524. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội là điểm tham chiếu không thể thiếu được để quyết định bản tính, phương thức, sự nối kết và phát triển của hoạt động mục vụ trong lĩnh vực xã hội. Giáo huấn này là sự biểu hiện của thừa tác vụ Phúc Âm hoá xã hội, nhằm mục đích soi sáng, khuyến khích và nâng đỡ sự thăng tiến toàn diện của con người thông qua việc thi hành sự giải thoát của Kitô giáo trong chiều hướng trần thế và siêu việt của nó. Giáo Hội hiện diện và sinh hoạt trong lịch sử. Giáo Hội tác động đến xã hội và văn hoá của thời đại mình để hoàn thành sứ mạng là loan báo sự mới mẻ trong sứ điệp Kitô giáo cho mọi người, qua những hoàn cảnh cụ thể mà họ gặp phải những khó khăn, đấu tranh và thách đố. Giáo Hội làm hết sức để đức tin soi dẫn cho họ có thể hiểu được sự thật này là: “cuộc giải thoát thật sự chính là biết mở lòng mình ra cho tình yêu của Đức Kitô”1114. Hoạt động mục vụ xã hội của Giáo Hội là việc diễn tả cách sống động và cụ thể các nhận thức đầy đủ về sứ mạng Phúc Âm hoá của Giáo Hội trong những thực tại xã hội, kinh tế, văn hoá và chính trị của thế giới.


525. Sứ điệp xã hội của Tin Mừng phải hướng dẫn Giáo Hội trong hoạt động mục vụ hai chiều của Giáo Hội: đó là vừa giúp con người, nam cũng như nữ, khám phá ra sự thật và lựa chọn con đường họ sẽ đi theo, vừa khích lệ các Kitô hữu làm chứng cho Tin Mừng với tinh thần phục vụ trong lĩnh vực hoạt động xã hội. “Ngày nay, hơn bao giờ hết, Lời Chúa sẽ không thể được công bố và đón nhận nếu như không kèm theo bằng chứng về quyền năng của Thánh Thần, là Đấng thể hiện quyền năng đó trong hoạt động của các Kitô hữu, là những người phục vụ anh chị em mình đến độ dám đánh đổi cả sinh mạng và tương lai của họ”1115. Nhu cầu cần phải có một cách rao giảng Tin Mừng mới mẻ (tân Phúc Âm hoá) giúp Giáo Hội hiểu rằng “ngày nay, hơn bao giờ hết,… sứ điệp xã hội của Giáo Hội sẽ được tín nhiệm mau chóng hơn nhờ vào bằng chứng của hành động hơn là vào kết quả của tính logic nội tại và tính kiên định của sứ điệp này”1116.

526. Học thuyết xã hội của Giáo Hội cung cấp những tiêu chuẩn nền tảng cho hành động mục vụ trong lĩnh vực hoạt động xã hội: đó là công bố Tin Mừng, đưa sứ điệp Tin Mừng vào trong bối cảnh những thực tại của xã hội, lập kế hoạch cho những hành động nhằm đổi mới những thực tại này, và làm cho chúng phù hợp với những đòi hỏi của luân lý Kitô giáo. Tân Phúc Âm hoá xã hội đòi hỏi trước hết việc loan báo Tin Mừng này: Thiên Chúa cứu độ mọi người và toàn thể con người trong Đức Giêsu Kitô. Sự loan báo này mạc khải cho con người hiểu được chính mình và nó phải trở thành nguyên tắc lý giải các thực tại xã hội. Trong việc loan báo Tin Mừng, chiều hướng xã hội là cốt yếu và buộc phải nói đến nhưng đó không phải là chiều hướng duy nhất. Đó là chiều hướng cần phải bộc lộ những khả năng vô hạn của ơn cứu độ Kitô giáo, dù sớm hay muộn, ơn cứu độ này vẫn không thể làm cho các thực tại xã hội phù hợp một cách hoàn hảo và dứt khoát đối với Tin Mừng. Không có kết quả nào, kể cả kết quả gây ấn tượng nhất, lại có thể thoát khỏi những giới hạn của tự do con người và trạng thái hướng về cánh chung của mọi loài thụ tạo1117.


527. Trên hết mọi sự, hoạt động mục vụ của Giáo Hội trong lĩnh vực xã hội phải làm chứngcho sự thật về con người. Nhân học Kitô giáo cho phép ta nhận thức rõ rằng các vấn đề xã hội sẽ không bao giờ tìm được một giải pháp thích hợp nếu tính siêu việt của con người, được mạc khải trọn vẹn trong đức tin, lại không được bảo vệ1118. Hoạt động xã hội của các Kitô hữu phải được cảm hứng bởi nguyên tắc căn bản là lấy con người làm trung tâm1119. Nhu cầu thăng tiến thực thể toàn vẹn của con người thúc bách các Kitô hữu đưa ra những giá trị nổi bật để hướng dẫn mọi xã hội loài người theo một trật tự tốt đẹp và hữu ích, những giá trị đó là sự thật, công lý, tình yêu và tự do1120. Hoạt động mục vụ trong lĩnh vực xã hội phải tìm cách bảo đảm sao cho việc canh tân đời sống cộng đồng được liên kết với việc tôn trọng có hiệu quả đối với các giá trị này. Theo hướng này, lời chứng của Giáo Hội về nhiều lĩnh vực trong Tin Mừng tìm cách thúc đẩy để mỗi người và mọi dân tộc nhận thức được điều tốt, và nhận thức đó sẽ là một nguồn vô tận cho sự phát triển về mọi khía cạnh của đời sống trong xã hội.


c. Học thuyết xã hội và việc đào tạo


528. Cần phải tham khảo học thuyết xã hội của Giáo Hội để đào tạo Kitô hữu biết hội nhập trọn vẹn. Khi nhấn mạnh học thuyết này như nguồn cảm hứng cho sứ mạng tông đồ và hoạt động xã hội, Huấn Quyền xác tín rằng học thuyết này sẽ hình thành nên một nguồn lực đặc biệt cho việc đào tạo; “điều này đặc biệt đúng đối với giáo dân là những người có trách nhiệm trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống công cộng và xã hội. Trước hết, họ cần phải có một sự hiểu biết chính xác hơn… về học thuyết xã hội của Giáo Hội”1121. Một trong các lý do đưa đến thất bại khiến học thuyết này không phản ánh một cách thích hợp để có thái độ sống cụ thể là vì di sản học thuyết này không được giảng dạy hay không được hiểu biết cách đầy đủ.


529. Giá trị đào tạo của học thuyết xã hội của Giáo Hội cần được quan tâm hơn trong việc dạy giáo lý1122. Giáo lý là việc giảng dạy có hệ thống về toàn bộ học thuyết Kitô giáo, nhằm dẫn dắt các tín hữu sống trọn vẹn Tin Mừng1123. Mục đích cuối cùng của giáo lý “là đưa con người không chỉ tiếp cận được mà còn hiệp thông mật thiết được với Đức Giêsu Kitô”1124. Theo đường hướng này, người ta có thể nhận ra tác động của Chúa Thánh Thần, là Đấng ban tặng đời sống mới trong Đức Kitô1125. Nhìn theo ánh sáng của đời sống mới này, trong việc giáo dục đức tin, khoa giáo lý không thể bỏ qua mà không quan tâm đến việc “làm sáng tỏ những thực tại một cách thích đáng, chẳng hạn như hoạt động của con người hướng tới sự giải thoát toàn vẹn cho mình, việc tìm kiếm một xã hội liên đới và huynh đệ hơn, việc đấu tranh cho công lý và xây dựng hoà bình”1126. Muốn thực hiện được những điều đó, cần phải trình bày toàn bộ giáo huấn xã hội theo lịch sử, nội dung và phương pháp của nó. Cần tiếp cận trực tiếp với văn bản của các thông điệp xã hội, cần đọc chúng trong bối cảnh Giáo Hội, hầu làm cho giáo huấn xã hội này được nhiều người đón nhận và thực hành, nhờ sự đóng góp của nhiều người có thẩm quyền và chuyên môn trong cộng đồng vào các lĩnh vực khác nhau.


530. Trong bối cảnh của việc dạy giáo lý, điều quan trọng trên hết là phải giảng dạy học thuyết xã hội của Giáo Hội thế nào để thôi thúc người học làm cho các thực tại trần thế thấm nhuần Tin Mừng và mang tính nhân bản. Thật vậy, qua học thuyết này, Giáo Hội đưa ra một kiến thức lý thuyết và thực tiễn làm hậu thuẫn cho việc dấn thân để biến đổi đời sống xã hội, giúp nó ngày càng thích hợp một cách trọn vẹn hơn với kế hoạch của Thiên Chúa. Giáo lý xã hội nhằm mục đích đào tạo con người, nam cũng như nữ, xét trên phương diện trật tự luân lý, là những người yêu mến sự tự do đích thực, những người “sẽ hình thành phán đoán của họ theo ánh sáng của sự thật, biết hướng dẫn những hoạt động của mình với tinh thần trách nhiệm và đấu tranh cho sự thật và công lý trong việc tình nguyện hợp tác với người khác”1127. Nhân chứng của đời sống Kitô hữu có một giá trị đào tạo phi thường. “Đặc biệt đời sống thánh thiện toả sáng nơi nhiều thành phần dân Chúa, thể hiện cách khiêm tốn và thường ít khi nhìn thấy, lại tạo nên cách thức đơn giản và thu hút nhất để nhận ra được ngay vẻ đẹp của chân lý, sức mạnh giải thoát của tình yêu Thiên Chúa, và giá trị của sự trung tín vô điều kiện đối với tất cả những đòi hỏi của luật Chúa, dù trong những hoàn cảnh khó khăn nhất”1128.


531. Học thuyết xã hội của Giáo Hội phải là nền tảng của một công trình đào tạo sâu sắc và bền bỉ, đặc biệt cho giáo dân. Một sự đào tạo như thế phải để ý đến những bổn phận của họ trong xã hội dân sự. “Nhiệm vụ của người tín hữu không phải là thụ động chờ đợi những mệnh lệnh và hướng dẫn, nhưng chính mình phải biết tự nguyện đưa ra sáng kiến và truyền đạt tinh thần Kitô giáo vào trong cách suy nghĩ, tập quán, luật lệ và các cấu trúc của cộng đồng mình sống”1129.Cấp bậc đầu tiên của việc đào tạo các Kitô hữu giáo dân là phải giúp họ có khả năng hoà hợp một cách hữu hiệu những hoạt động hằng ngày vào trong lĩnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế - chính trị và phải làm cho họ tăng thêm ý thức rằng mình có bổn phận phục vụ cho công ích1130. Cấp bậc thứ hai liên quan tới việc đào tạo lương tâm chính trị nhằm mục đích chuẩn bị cho các Kitô hữu giáo dân thực thi quyền chính trị. “Những ai có biệt tài về nghệ thuật chính trường cao thượng nhưng cũng đầy khó khăn hoặc những ai có năng lực đặc biệt về vấn đề này cần được phát triển, thì phải tự chuẩn bị cho mình về vấn đề này, biết quên đi những tiện nghi và những lợi lộc vật chất cá nhân và cần dấn thân vào hoạt động chính trị”1131.


532. Các cơ sở giáo dục Công giáo nên và phải thực hiện việc phục vụ đào tạo cao quý, khi tự cống hiến cách đặc biệt cho việc hội nhập văn hoá của sứ điệp Kitô giáo, nghĩa là cho cuộc gặp gỡ hữu hiệu giữa Tin Mừng và các ngành kiến thức khác nhau. Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo là một phương tiện cần thiết cho một nền giáo dục Kitô giáo đạt hiệu quả là hướng tới tình yêu thương, công lý và hoà bình, cũng như hướng tới sự trưởng thành ý thức về các bổn phận luân lý và xã hội trong những lĩnh vực văn hoá và chuyên môn khác nhau.

Những “Tuần lễ Xã hội” của người Công giáo mà Huấn Quyền luôn khuyến khích là những thí dụ điển hình về các cơ hội đào tạo. Chúng là những thời gian đặc biệt để cho người tín hữu giáo dân biểu lộ và gia tăng sự đóng góp vào xã hội, mà những người này lại có khả năng đóng góp ở mức độ đặc biệt cao cho trật tự trần thế. Nhiều quốc gia nhận thấy rằng những tuần lễ này thật sự là những dịp nghiên cứu về mặt văn hoá trong việc trao đổi những suy tư và kinh nghiệm, nghiên cứu các vấn đề nổi bật và tìm ra những cách tiếp cận mới để giải quyết vấn đề.


533. Việc tận dụng học thuyết xã hội để đào tạo các linh mục và các ứng viên chức linh mục cũng không kém phần quan trọng. Các ứng viên này là những người, trong bối cảnh chuẩn bị cho thừa tác vụ, cần phải trau dồi một kiến thức toàn diện về giáo huấn của Giáo Hội và về mối quan tâm của Giáo Hội trong lĩnh vực xã hội cũng như sự chú ý sâu sắc đối với những vấn đề xã hội của thời đại họ sống. Bộ Giáo dục Công giáo đã phát hành tập tài liệuHướng dẫn Học tập và Giảng dạy Học thuyết Xã hội của Giáo Hội trong việc Đào tạo Linh mục1132, tài liệu này đưa ra những chỉ dẫn và khuyến cáo đặc biệt cho kế hoạch nghiên cứu đúng đắn và phù hợp với giáo huấn này.


d. Khuyến khích đối thoại


534. Học thuyết xã hội của Giáo Hội là một công cụ ưu việt cho việc đối thoại giữa các cộng đồng Kitô giáo với cộng đồng dân sự và chính trị. Đó là một công cụ thích hợp để cổ vũ và vun trồng những thái độ hợp tác đích thực và hữu hiệu theo các cách thức thích ứng với các hoàn cảnh. Sự dấn thân của các quyền hành dân sự và chính trị được mời gọi phục vụ thiên chức của từng cá nhân và của xã hội loài người phù hợp với những lĩnh vực riêng biệt của thẩm quyền và với những phương tiện họ có được, sự dấn thân này có thể tìm thấy trong giáo huấn xã hội của Giáo Hội một hậu thuẫn quan trọng và một nguồn cảm hứng phong phú.


535. Giáo huấn xã hội của Giáo Hội cũng là mảnh đất màu mỡ cho đối thoại và hợp tác trong lĩnh vực đại kết. Điều này xảy ra ở nhiều nơi khác nhau trên một quy mô rộng lớn liên quan tới việc bảo vệ phẩm giá con người, cổ vũ cho hoà bình, đấu tranh cách cụ thể và hữu hiệu chống lại sự khốn cùng trong thế giới hiện nay, như nạn đói kém và nghèo nàn, nạn mù chữ, sự phân phối không công bằng của cải trên trái đất và tình trạng thiếu nhà ở. Sự hợp tác đa diện này làm tăng ý thức rằng mọi người đều là anh chị em trong Đức Kitô, và làm cho cuộc hành trình tiến tới đại kết được dễ dàng hơn.


536. Nhờ có chung truyền thống Cựu Ước, Giáo hội Công giáo có thể tham gia đối thoại với anh chị em Do Thái giáo, và Giáo Hội cũng thực hiện việc đối thoại này thông qua học thuyết xã hội của mình, để cùng nhau xây dựng một tương lai đem lại công lý và hoà bình cho mọi người, với tư cách là con cái của một Thiên Chúa duy nhất. Di sản thiêng liêng chung này nuôi dưỡng sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau1133, trên cơ sở này, có thể đạt được sự đồng thuận lớn lao hơn liên quan tới việc khai trừ mọi hình thức phân biệt đối xử và bảo vệ nhân phẩm.


537.Học thuyết xã hội của Giáo Hội cũng tiêu biểu cho một lời kêu gọi đối thoại liên tục giữa các thành viên của các tôn giáo trên thế giới để có thể cùng nhau tìm ra những hình thức hợp tác thích hợp nhất. Tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm hoà bình, điều này tuỳ thuộc vào việc cùng dấn thân cho sự phát triển toàn diện của con người1134. Trong tinh thần gặp gỡ nhau để cầu nguyện được tổ chức tại Assisi1135, Giáo Hội tiếp tục mời gọi các tín hữu thuộc các tôn giáo khác đối thoại và thúc đẩy việc làm chứng cách hữu hiệu ở khắp mọi nơi cho những giá trị được cả gia đình nhân loại chia sẻ.


e. Những chủ thể của hoạt động mục vụ xã hội


538.Toàn thể dân Chúa đều có một vai trò để thực hiện trong khi Giáo Hội hoàn thành sứ mạng của mình. Với nhiều cách thức khác nhau và thông qua mỗi thành viên tuỳ theo năng khiếu và cách hành động thích hợp với thiên chức của mỗi người, dân Chúa phải làm tròn bổn phận công bố và làm chứng cho Tin Mừng (x. 1 Cr 9,16), trong sự nhận thức rằng “hoạt động truyền giáo là một vấn đề của mọi Kitô hữu”1136.

Công tác mục vụ trong lĩnh vực xã hội cũng được hiểu là dành cho tất cả các Kitô hữu, những người được mời gọi trở nên những chủ thể sống động để làm chứng cho học thuyết xã hội này và trở nên thành phần tích cực của truyền thống vững chắc trong “hoạt động hữu hiệu của hàng triệu người, những người cố gắng làm cho giáo huấn này trở thành nguồn cảm hứng cho sự dấn thân của họ trong thế giới, nhờ sự thôi thúc của Huấn Quyền”1137. Hoạt động với tư cách cá nhân hay cùng với những người khác trong các nhóm, các hiệp hội hay các tổ chức khác nhau, các Kitô hữu ngày nay đại diện cho “một phong trào vĩ đại để bảo vệ con người và bảo toàn nhân phẩm”1138.


539.Trong mỗi Giáo Hội riêng biệt, trách nhiệm hàng đầu cho việc dấn thân mục vụ để Phúc Âm hoá các thực tại xã hội thuộc về giám mục, được các linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo dân giúp đỡ. Cùng với sự lưu tâm đặc biệt đến những thực tại ở địa phương, giám mục có trách nhiệm cổ vũ giáo huấn và phổ biến học thuyết xã hội của Giáo Hội, điều mà giám mục cần phải thực hiện thông qua các định chế thích hợp.

Hoạt động mục vụ của giám mục được thực hiện qua thừa tác vụ của các linh mục là những người tham gia vào nhiệm vụ giáo huấn, thánh hoá và cai quản cộng đồng Kitô hữu của giám mục. Thông qua những chương trình đào tạo thích hợp, linh mục nên phổ biến học thuyết xã hội của Giáo Hội cho các thành viên trong cộng đồng của mình và khuyến khích họ ý thức về quyền lợi và bổn phận để trở thành những chủ thể tích cực của học thuyết này. Thông qua việc cử hành các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể và Hoà Giải, linh mục giúp tín hữu sống việc dấn thân trong lĩnh vực xã hội của họ như là hoa trái của mầu nhiệm cứu độ. Linh mục cần cổ vũ hoạt động mục vụ trong phạm vi xã hội, quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và đồng hành thiêng liêng với các Kitô hữu giáo dân đã dấn thân vào đời sống xã hội và chính trị. Linh mục nào thi hành công tác mục vụ trong các hiệp hội khác nhau của Giáo Hội, đặc biệt những hiệp hội chuyên lo việc tông đồ xã hội, có bổn phận khuyến khích sự tăng trưởng của các nhóm như thế thông qua việc giảng dạy đúng đắn học thuyết xã hội.


540.Công việc mục vụ trong lĩnh vực xã hội này cũng bao gồm công việc của những người được thánh hiến tuỳ theo đặc ân riêng của họ. Đời sống chứng nhân sáng ngời của các người này, đặc biệt trong những hoàn cảnh rất nghèo nàn, biểu hiện một sự nhắc nhở cho mọi người về những giá trị thánh thiện và tinh thần phục vụ quảng đại cho đồng loại mình.Ân huệ dâng hiến hoàn toàn chính mình nơi các tu sĩ nam nữ được mọi người chiêm ngưỡng như là một dấu hiệu hùng hồn và mang tính tiên tri cho học thuyết xã hội của Giáo Hội. Tự hiến mình hoàn toàn cho việc phục vụ mầu nhiệm tình yêu của Đức Kitô dành cho nhân loại và thế giới, các tu sĩ như thể tham dự trước và minh chứng bằng chính đời sống của họ một số đặc điểm của nhân loại mới mà học thuyết xã hội này đang tìm cách hô hào. Trong tinh thần khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, những người được thánh hiến dấn thân phục vụ với lòng bác ái mục vụ, đặc biệt qua kinh nguyện, và cũng nhờ kinh nguyện, họ chiêm ngưỡng kế hoạch của Thiên Chúa về thế giới và cầu xin Chúa mở lòng cho hết mọi người biết đón nhận vào trong chính bản thân mình ân huệ làm nên nhân loại mới, mà Đức Kitô trả giá bằng việc hy tế chính mình.

--------------------------------------------------------------------------------------------------

1104 Phaolô VI, Thông điệp Ngày Thế giới Hoà bình năm 1976: AAS 67 (1975), 671.

1105 x. Bộ Giáo sĩ, General Directory for Catechesis, 18, Libreria Editrice Vaticana,

Vatican City 1997, tr. 24.

1106 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, 11: AAS 83 (1991), 259-260.

1107 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 5: AAS 83 (1991), 799.

1108 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 5: AAS 83 (1991), 799.

1109 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22: AAS 58 (1966), 1043.

1110 Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, 52: AAS 83 (1991), 300; x.

Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, 20: AAS 68 (1976), 18-19.

1111 Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, 11: AAS 83 (1991), 259-260.

1112 Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 35: AAS 81

(1989), 458.

1113 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 5: AAS 83 (1991), 800.

1114 Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, 11: AAS 83 (1991), 259.

1115 Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens, 51: AAS 63 (1971), 440.

1116 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 57: AAS 83 (1991), 862.

1117 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, 48: AAS 80 (1988), 583-584.

1118 x. CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 76: AAS 58 (1966), 1099-1100.

1119 x. Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra: AAS 53 (1961), 453; Gioan Phaolô II,

Thông điệp Centesimus Annus, 54: AAS 83 (1991), 859, 860.

1120 x. Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in Terris: AAS 55 (1963), 265-266.

1121 x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 60: AAS

81 (1989), 511.

1122 x. Bộ Giáo sĩ, General Directory for Catechesis, 30, Libreria Editrice Vaticana,

Vatican City 1997, tr. 33.

1123 x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Cathechesi Tradendae, 18: AAS 71 (1979), 1291-1292.

1124 Gioan Phaolô II, Tông huấn Cathechesi Tradendae, 5: AAS 71 (1979), 1281.

1125 x. Bộ Giáo sĩ, General Directory for Catechesis, 54, Libreria Editrice Vaticana,

Vatican City 1997, tr. 56.

1126 Gioan Phaolô II, Tông huấn Cathechesi Tradendae, 29: AAS 71 (1979), 1301-1302;

cũng xem Bộ Giáo sĩ, General Directory for Catechesis, 17, Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 1997, tr. 23.

1127 CĐ. Vatican II, Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, 8: AAS 58 (1966), 935.

1128 Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor, 107: AAS 85 (1993), 1217.

1129 Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, 81: AAS 59 (1967), 296-297.

1130 x. CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 75: AAS 58 (1966), 1097-1098.

1131 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 75: AAS 58 (1966), 1098.

1132 30 tháng 12 năm 1988, Vatican Polyglot Press, Roma 1988.

1133 CĐ. Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, 4: AAS 58 (1966), 742-743.

1134 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, 32: AAS 80 (1988), 556-557.

1135 27 tháng 10 năm 1986; 24 tháng 1 năm 2002.

1136 Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, 2:AAS 83 (1991), 250.

1137 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 3: AAS 83 (1991), 795.

II. HỌC THUYẾT XÃ HỘI VÀ SỰ DẤN THÂN CỦA TÍN HỮU GIÁO DÂN


a. Tín hữu giáo dân


541.Đặc điểm cốt yếu của tín hữu giáo dân, những người làm việc trong vườn nho của Chúa (x. Mt 20,1-16), là bản chất trần thế trong nhiệm vụ làm môn đệ Đức Kitô của họ, nhiệm vụ ấy được thực hiện chính xác nơi trần thế. “Nhiệm vụ của tín hữu giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa qua việc gắn bó với những công việc trần gian và sắp đặt chúng theo thánh ý Chúa”1139. Qua bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu được sáp nhập vào Đức Kitô, được tham dự vào chính đời sống và sứ mạng của Người theo bản sắc riêng của họ. “Từ ngữ ‘giáo dân’ ở đây được hiểu là tất cả các tín hữu ngoại trừ những người có chức thánh và những ai theo đuổi đời sống tu trì được Giáo Hội công nhận. Nghĩa là người tín hữu, qua bí tích Thánh Tẩy, được sáp nhập vào Đức Kitô, được đưa vào dân Chúa, và theo cách thức riêng, họ được chia sẻ chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Đức Kitô, và với tất cả khả năng của mình, họ đảm nhận sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trong thế giới”1140.


542.Bản sắc của tín hữu giáo dân được phát sinh và nuôi dưỡng bởi bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể. Bí tích Thánh Tẩy làm cho con người được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Con Thiên Chúa, trưởng tử của mọi loài thụ tạo, được sai đến với tất cả như là vị Thầy và là Đấng Cứu Thế. Bí tích Thêm Sức làm cho mỗi cá nhân nên giống khuôn mẫu của Đức Kitô, Đấng được sai đến để ban sự sống mới cho công cuộc sáng tạo và cho từng hữu thể qua việc tuôn trào Thần Khí của Người. Bí tích Thánh Thể làm cho người tín hữu được tham dự vào hy tế duy nhất và hoàn hảo mà Đức Kitô dâng hiến cho Chúa Cha, bằng chính xác thân Người để cứu độ thế giới.

Người tín hữu Công giáo là những môn đệ của Đức Kitô bắt đầu với các bí tích, có nghĩa là qua những gì Thiên Chúa đã tác tạo nơi họ, ghi dấu nơi họ bằng chính hình ảnh của Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài. Chính từ quà tặng ân huệ thần linh này, chứ không phải từ sự nhượng quyền của con người, mà phát sinh ra “munus” (ân huệ và trọng trách) ba mặt, tiêu biểu cho người tín hữu giáo dân, là tiên tri, tư tế và vương giả, phù hợp với bản tính trần thế của họ.


543.Bổn phận chính đáng của tín hữu giáo dân là công bố Tin Mừng bằng lời chứng gương mẫu của đời sống được ăn rễ sâu trong Đức Kitô và được sống động qua những thực tại trần thế như gia đình; sự dấn thân vào chuyên môn trong thế giới lao động, văn hoá, khoa học và nghiên cứu; việc thực hành các trách nhiệm xã hội, kinh tế và chính trị. Tất cả những thực tại con người trần thế – cả cá nhân lẫn xã hội, bao gồm những môi trường và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, cũng như các cấu trúc và các định chế – là bối cảnh mà trong đó người tín hữu giáo dân sống và làm việc. Những thực tại này là những nơi mà người ta đón nhận được tình yêu Thiên Chúa. Sự dấn thân của họ phải phù hợp với tầm nhìn này và được nhìn nhận như một cách diễn tả lòng bác ái theo Tin Mừng. “Đối với tín hữu giáo dân, sự hiện diện và hoạt động của họ trong thế giới không chỉ là một thực tại mang tính nhân học và xã hội học, nhưng theo một cách thức đặc biệt, đó còn là một thực tại mang tính thần học và giáo hội học nữa”1141.


544. Việc làm chứng của tín hữu giáo dân được phát sinh từ ân huệ Chúa ban, được công nhận, nuôi dưỡng và dẫn tới sự trưởng thành1142. Động lực này làm cho sự dấn thân của họ trên thế giới có ý nghĩa và khác với những đặc tính hoạt động đặc thù của chủ nghĩa nhân bản vô thần, những đặc tính ấy không có một nền tảng tối hậu và bị đóng khung trong những giới hạn hoàn toàn thế tục. Lấy viễn cảnh cánh chung là then chốt mới có thể đem đến một sự hiểu biết đúng đắn về những thực tại con người. Từ điểm tựa là những ích lợi xác định này, tín hữu giáo dân có thể dấn thân vào hoạt động trần thế theo những tiêu chuẩn đích thực. Những mức sinh hoạt cao và năng suất kinh tế lớn hơn không phải là các chỉ báo có giá trị duy nhất để đo lường thành tựu đầy đủ của con người trong cuộc sống này, và thậm chí chúng còn kém giá trị đối với cuộc sống mai hậu, “bởi vì tầm nhìn của con người không chỉ giới hạn trong trật tự trần thế; tuy sống trong tầm mức của lịch sử nhân loại, con người vẫn bảo tồn toàn vẹn vận mệnh vĩnh cửu của mình”1143.


b. Linh đạo giáo dân

545. Tín hữu giáo dân được mời gọi vun trồng linh đạo giáo dân đích thực mà qua đó họ được tái sinh thành những con người mới, được thánh hoá và trở nên những người thánh hoá, được dìm trong mầu nhiệm Thiên Chúa và được đặt vào lòng xã hội. Một linh đạo như thế sẽ xây dựng thế giới theo Thần Khí của Đức Giêsu. Điều đó làm cho con người có khả năng nhìn xa hơn lịch sử mà không tách mình ra khỏi lịch sử, có khả năng vun đắp một tình yêu mãnh liệt đối với Thiên Chúa mà không xa cách anh chị em mình, những người mà họ có thể hiểu như Chúa hiểu và yêu như Chúa yêu. Linh đạo này ngăn chặn được cả hai chủ nghĩa duy linh sâu đậm và chủ nghĩa duy hoạt xã hội, thay vào đó, nó tự biểu lộ trong một tổng hợp sống động đem lại sự hợp nhất, ý nghĩa và niềm hy vọng cho sự hiện hữu, mà vì nhiều lý do khác nhau, sự hiện hữu này trở thành mâu thuẫn và manh mún. Được thúc đẩy bởi một linh đạo như thế, tín hữu giáo dân có khả năng đóng góp vào việc “thánh hoá thế giới, tự bên trong như men trong bột, bằng cách chu toàn bổn phận riêng của mình. Vì vậy, đặc biệt qua bằng chứng đời sống riêng của mình… họ phải biểu lộ Đức Kitô cho người khác”1144.


546.Tín hữu giáo dân cần củng cố đời sống tâm linh và luân lý của mình để ngày càng trở nên thành thạo trong việc chu toàn các bổn phận của mình. Việc đào sâu các động lực bên trong và trau dồi lối sống thích hợp cho công việc của họ trong các lĩnh vực xã hội và chính trị là những kết quả của việc đào tạo năng động và liên tục, trước tiên là hướng tới sự hài hoà giữa niềm tin và cuộc sống với những phức tạp của nó… Vì vậy, trong kinh nghiệm của các tín hữu, “không thể có hai cuộc sống cùng tồn tại mà lại cứ song song với nhau, một đàng gọi là đời sống ‘tâm linh’ với những giá trị và những đòi hỏi của nó; đàng khác, được gọi là đời sống ‘thế tục’, nghĩa là đời sống trong gia đình, tại nơi làm việc, trong các mối quan hệ xã hội, trong những trách nhiệm của đời sống công cộng và trong văn hoá”1145.

Liên kết niềm tin và cuộc sống với nhau đòi hỏi phải theo con đường đã được vạch ra một cách đúng đắn bởi những yếu tố đặc trưng của đời sống Kitô hữu: Ngôi Lời Thiên Chúa như là một điểm quy chiếu; việc cử hành mầu nhiệm Kitô giáo trong phụng vụ; kinh nguyện cá nhân; kinh nghiệm đích thực của Giáo Hội được tăng cường bởi những việc đào tạo đặc biệt của các nhà hướng dẫn tâm linh sâu sắc; việc thực thi những đức tính xã hội và việc dấn thân bền bỉ cho công tác đào tạo văn hoá và chuyên môn.


c. Hành động thận trọng


547. Tín hữu giáo dân cần hành động theo tiếng gọi của sự thận trọng, một đức tính làm cho ta có thể nhận ra được sự thiện đích thực trong mọi trường hợp và chọn ra được những phương tiện đúng đắn để đạt được sự thiện đó. Nhờ đức tính này, những nguyên tắc luân lý được áp dụng cách chính xác trong những trường hợp riêng biệt. Chúng ta có thể nhận ra ba thời điểm riêng biệt khi sự thận trọng được thực hành để làm sáng tỏ và lượng giá các tình hình, gợi hứng cho những quyết định và thôi thúc hành động. Thời điểm thứ nhất được nhận thấy trong suy tư và tham vấn, qua đó những vấn đề được nghiên cứu và những ý kiến cần thiết được tìm tòi. Thời điểm thứ hai là thời điểm lượng giá khi thực tại được phân tích và phán đoán trong ánh sáng của kế hoạch Thiên Chúa. Thời điểm thứ ba là thời điểm quyết định dựa trên những giai đoạn trước và làm cho có thể chọn lựa được một quyết định giữa những hành động khác nhau cần xúc tiến.


548. Sự thận trọng làm cho những quyết định nhất quán có thể thực hiện được, và thực hiện chúng với óc thực tế và có ý thức trách nhiệm về những hậu quả của hành vi mình làm. Ý kiến phổ biến coi sự thận trọng ngang hàng với sự khôn khéo sắc sảo, với những toan tính thực dụng, với sự thiếu tự tin hoặc với tính nhút nhát hay thiếu dứt khoát, đều là những hiểu biết rất không đúng về đức tính này. Đây là một đặc tính của lý trí thực tiễn và đưa ra sự hỗ trợ trong việc quyết định tiến trình hành động cần phải theo với sự khôn ngoan và can đảm và trở thành thước đo cho những đức tính khác. Sự thận trọng xác định thiện ích như một bổn phận và chỉ cho con người thấy cần phải hoàn thành thiện ích ấy bằng cách thức nào1146. Suy cho cùng, thận trọng là một đức tính đòi hỏi sự thể hiện trưởng thành trong suy nghĩ và chịu trách nhiệm về sự hiểu biết khách quan đối với một tình huống đặc biệt và về việc tạo ra những quyết định theo một ý chí đúng đắn1147.


d. Học thuyết xã hội và các hiệp hội giáo dân


549. Học thuyết xã hội của Giáo Hội phải trở thành một phần không thể thiếu trong việc đào tạo đang được xúc tiến cho tín hữu giáo dân. Kinh nghiệm cho thấy công việc đào tạo này chỉ có thể được thực hiện trong các hiệp hội của Giáo Hội dành cho giáo dân để đáp ứng chính xác cho những “tiêu chuẩn của Giáo Hội”1148. “Các nhóm, các hiệp hội và các phong trào cũng có vai trò của mình trong việc đào tạo giáo dân. Thật vậy, chúng có khả năng, với phương pháp riêng của từng tổ chức, cống hiến một sự đào tạo thông qua kinh nghiệm được chia sẻ một cách sâu sắc trong đời sống tông đồ, đồng thời tạo cơ hội hoà nhập, làm cho việc đào tạo, mà các thành viên của họ nhận được nơi người khác và các cộng đồng khác, được cụ thể và chuyên biệt”1149.

Học thuyết xã hội của Giáo Hội nâng đỡ và chiếu toả ánh sáng lên vai trò của các hiệp hội, các phong trào và các nhóm giáo dân đang dấn thân cho công cuộc canh tân Kitô giáo trong nhiều khu vực khác nhau của trật tự trần thế1150. “Sự hiệp thông của Giáo Hội, đã hiện diện và hoạt động trong các sinh hoạt của cá nhân, biểu lộ đặc biệt nơi các tín hữu giáo dân đang làm việc chung trong các nhóm, nghĩa là qua những sinh hoạt được thực hiện với những người khác trong quá trình tham gia đầy trách nhiệm của họ vào đời sống và sứ vụ của Giáo Hội”1151.


550. Học thuyết xã hội của Giáo Hội vô cùng quan trọng đối với các hiệp hội của Giáo Hội mà mục tiêu của chúng là hoạt động mục vụ trong xã hội. Những hiệp hội này được người ta thích tìm đến để tham khảo, vì chúng hiện diện trong xã hội như là những bộ phận của Giáo Hội theo đúng bản chất của chúng; điều này cho thấy tầm quan trọng và giá trị của cầu nguyện, của suy tư và đối thoại để bàn đến và cải thiện các thực tại xã hội. Mỗi người phải ghi nhớ sự khác biệt, trong từng trường hợp, “giữa các hoạt động của Kitô hữu – khi họ hành động với tư cách cá nhân hay tập thể trên danh nghĩa là những công dân được hướng dẫn bởi tiếng gọi của lương tâm Kitô giáo – và hoạt động của họ cùng với các vị chủ chăn của mình nhân danh Giáo Hội”1152.

Những hiệp hội chuyên biệt khác nhau quy tụ con người lại với nhau nhân danh thiên chức và sứ mệnh Kitô hữu trong lĩnh vực riêng về chuyên môn hoặc văn hoá có vai trò quý giá trong việc đào tạo nên các Kitô hữu trưởng thành. Ví dụ, hiệp hội các bác sĩ Công giáo quy tụ các thành viên của hội để cùng nhau nhận thức rõ về nhiều vấn đề được y học, sinh vật học và các khoa học khác đặt ra trước năng lực chuyên môn của các bác sĩ, cũng như trước lương tâm cá nhân và niềm tin của họ. Tương tự như vậy, cũng có thể nói đến các hiệp hội dành cho các giáo viên Công giáo, các nhà chuyên môn về luật pháp, các doanh nhân nam nữ, các công nhân cũng như các hiệp hội thể thao Công giáo, hiệp hội về sinh thái, v.v… Trong bối cảnh này, học thuyết xã hội của Giáo Hội chỉ cho thấy đây là những phương tiện hữu hiệu để đào tạo lương tâm cho cá nhân và hình thành nền văn hoá quốc gia.


e. Phục vụ trong những khu vực khác nhau của đời sống xã hội


551.Sự hiện diện của giáo dân trong đời sống xã hội được tiêu biểu bởi việc phục vụ, đó là dấu hiệu và sự biểu lộ của tình yêu, được thể hiện trong lĩnh vực gia đình, văn hoá, lao động, kinh tế và chính trị theo những khía cạnh đặc trưng. Tuân theo những đòi hỏi khác trong lĩnh vực lao động đặc biệt của mình, giáo dân nam nữ diễn tả sự thật của lòng tin và đồng thời cũng diễn tả sự thật của học thuyết xã hội của Giáo Hội, làm cho học thuyết này hoàn toàn trở thành một thực tại khi học thuyết ấy được sống một cách cụ thể với mục đích để giải quyết các vấn đề xã hội. Quả thật, sự tin cậy đối với học thuyết này phát xuất một cách trực tiếp từ bằng chứng của hành động hơn là tính nhất quán nội tại hoặc tính logic của nó1153.

Tiến vào Thiên Niên Kỷ Thứ Ba của kỷ nguyên Kitô giáo, qua đời sống chứng nhân, người giáo dân sẽ cởi mở chính mình cho tất cả những ai mà cùng với họ đón nhận gánh nặng trách nhiệm về lời mời gọi khẩn thiết nhất của thời đại chúng ta. “Rút ra từ những kho tàng giáo huấn của Giáo Hội, những đề nghị của Công Đồng này nhắm tới tất cả mọi người, dù họ tin vào Thiên Chúa hoặc không nhìn nhận Ngài cách công khai; những đề nghị ấy có ý giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về vận mệnh của mình, giúp cho lao động phù hợp hơn với phẩm giá cao quý của con người, giúp phấn đấu để có một cảm thức sâu đậm hơn về tình huynh đệ phổ quát và giúp đáp ứng những yêu cầu khẩn thiết của thời đại chúng ta với một nỗ lực quảng đại và phổ biến của tình yêu”1154.


1. Phục vụ con người


552. Trong những lĩnh vực dấn thân xã hội của giáo dân, việc phục vụ con người chiếm ưu thế hàng đầu. Cổ vũ cho phẩm giá của mọi người, tài sản quý nhất của những con người, nam cũng như nữ, là “nhiệm vụ thiết yếu, hiểu theo một nghĩa nào đó, là nhiệm vụ trọng tâm và thống nhất của việc phục vụ mà Giáo Hội, và giáo dân trong Giáo Hội, được mời gọi để thể hiện cho gia đình nhân loại”1155.

Hình thức thứ nhất, trong đó nhiệm vụ được thực hiện, bao gồm sự dấn thân và những nỗ lực đổi mới chính mình từ bên trong, vì lịch sử con người không phải bị chi phối bởi thuyết tiền định phi ngôi vị nhưng bởi đa số các chủ thể mà những hành động tự do của họ hình thành nên trật tự xã hội. Tự bản thân những định chế xã hội không bảo đảm cho công ích một cách tự động; sự “đổi mới tinh thần của Kitô giáo”1156 từ bên trong phải đi trước việc dấn thân nhằm cải thiện xã hội “theo tâm thức của Giáo Hội được thiết lập một cách vững chắc trên nền tảng công lý và bác ái xã hội”1157.

Chính từ sự chuyển biến của các tâm hồn mà nảy sinh ra mối quan tâm đến những người khác để yêu thương họ như anh chị em mình. Sự quan tâm này giúp chúng ta hiểu được nghĩa vụ và sự dấn thân để làm lành mạnh các định chế, các cơ cấu và các điều kiện sống đi ngược lại với phẩm giá con người. Giáo dân vì thế cùng một lúc vừa phải làm biến đổi các con tim đồng thời vừa cải thiện các cơ cấu, trong khi chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử và sử dụng những phương tiện hợp pháp để làm cho phẩm giá của mọi người nam nữ được tôn trọng thật sự và được cổ vũ bên trong các định chế.

553. Cổ vũ phẩm giá con người trên hết ngụ ý việc xác định tính bất khả xâm phạm của quyền được sống, từ khi được thụ thai cho đến lúc chết một cách tự nhiên, là quyền thứ nhất trong các quyền lợi và là điều kiện cho tất cả các quyền khác của con người1158. Hơn nữa, tôn trọng nhân phẩm đòi buộc phải nhìn nhận chiều hướng tôn giáo của con người. “Đây không chỉ đơn giản là một đòi buộc ‘liên quan đến những vấn đề của niềm tin’, mà còn là một đòi buộc không thể tách biệt ra khỏi thực tại cá nhân của con người”1159. Sự nhìn nhận hữu hiệu về quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo là một trong những di sản cao quý nhất và là một trong những bổn phận quan trọng nhất của mỗi dân tộc muốn bảo đảm thiện ích của cá nhân và xã hội1160. Trong bối cảnh văn hoá hiện nay, nhu cầu đặc biệt khẩn thiết là nhu cầu bảo vệ hôn nhân và gia đình, muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu này, người ta phải xác tín về giá trị duy nhất và riêng biệt của hai thực tại đó đối với sự phát triển đích thực của xã hội loài người1161.


2. Phục vụ trong lĩnh vực văn hoá


554. Văn hoá phải là lĩnh vực ưu tiên cho sự hiện diện và dấn thân của Giáo Hội và các cá nhân Kitô hữu. Công đồng Vatican II nhận thấy sự tách rời của niềm tin Kitô giáo với đời sống hằng ngày như là một trong những sai lạc trầm trọng nhất của thời đại chúng ta1162. Tình trạng không có một viễn cảnh siêu hình, sự đánh mất lòng khát vọng tìm Chúa vì yêu mình quá độ nên chỉ tự phục vụ cho chính bản thân, và các hình thức khác nhau gặp thấy trong những lối sống tiêu thụ; dành ưu tiên cho việc nghiên cứu khoa học và kỹ thuật như là cùng đích của đời mình; chú trọng vào dáng vẻ bên ngoài, nỗ lực truy tìm hình ảnh, những kỹ thuật truyền thông. Tất cả các hiện tượng trên đây cần phải hiểu trong các khía cạnh văn hoá của chúng và cần phải đặt trong tương quan với vấn đề trọng tâm của con người, của sự phát triển con người toàn diện, của năng lực giao tiếp và liên hệ với người khác, và của sự tìm kiếm không ngừng của con người để trả lời cho những vấn đề lớn đặt ra trong cuộc sống. Cần phải ghi nhớ rằng “nhờ văn hoá, con người, với tư cách là người, sẽ trở thành người hơn, và một khi “là” người hơn như thế, thì cũng làm cho sự hiện hữu có giá trị hơn”1163.


555. Cổ vũ một nền văn hoá xã hội và chính trị được gợi hứng từ Tin Mừng phải là một phạm vi hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt đối với tín hữu giáo dân. Lịch sử gần đây cho thấy sự yếu kém và thất bại hoàn toàn của những viễn cảnh văn hoá được quần chúng đón nhận và thịnh hành trong một thời gian dài, nhất là trên tầm mức xã hội và chính trị. Đặc biệt trong những thập niên sau Thế Chiến Thứ Hai, các Kitô hữu trong các quốc gia khác nhau đã tham gia vào lĩnh vực xã hội và chính trị tới mức độ cao, điều đó cho thấy ngày càng rõ ràng hơn tính kiên định trước sau như một của nguồn cảm hứng và của di sản các giá trị nơi họ. Thật vậy, sự tham gia vào lĩnh vực xã hội và chính trị của các Kitô hữu không bao giờ bị giới hạn vào việc chỉ làm biến đổi các cơ cấu mà thôi, vì sự tham gia này diễn ra ở tận các nền móng của một nền văn hoá biết đón nhận và lắng nghe sự suy luận được hình thành bởi lòng tin và luân lý, vì coi lòng tin và luân lý như thể là nền tảng và mục tiêu của kế hoạch cụ thể. Khi thiếu sự nhận thức này, chính các Kitô hữu bị lên án là đã làm phân tán văn hoá và những đề nghị của họ trở nên thiếu sót và bị giới hạn. Một ưu tiên cấp bách ngày nay cũng được tìm thấy trong nhu cầu giới thiệu di sản truyền thống Công giáo, các giá trị và nội dung của truyền thống này và toàn bộ di sản thiêng liêng, tri thức và luân lý của học thuyết Công giáo bằng những từ ngữ được cập nhật hoá về mặt văn hoá. Niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng diễn tả chính mình như “là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), thúc bách các Kitô hữu ngày nay dấn thân cách kiên quyết và mới mẻ để xây dựng một nền văn hoá chính trị xã hội được gợi hứng từ Tin Mừng1164.


556. Sự hoàn hảo trọn vẹn của con người và thiện ích của toàn thể xã hội là những cứu cánh thiết yếu của nền văn hoá1165; vì vậy chiều hướng đạo đức của văn hoá là một ưu tiên trong sinh hoạt xã hội của người tín hữu giáo dân. Không chú ý đến chiều hướng này sẽ dễ dàng biến văn hoá thành một công cụ làm nghèo nhân loại. Nền văn hoá có thể trở nên cằn cỗi và đi đến suy đồi khi nó “chỉ hướng về bên trong và cố gắng duy trì những lối sống lỗi thời qua việc từ chối bất cứ trao đổi hay thảo luận nào có liên quan đến sự thật về con người”1166. Trái lại, việc tạo nên một nền văn hoá có khả năng làm phong phú con người, nam cũng như nữ, đòi hỏi sự tham gia của toàn thể con người, trên bình diện văn hoá mà con người này thể hiện tính sáng tạo, trí thông minh, sự hiểu biết của mình về thế giới và về con người; và hơn nữa, càng làm phong phú những ai biết sử dụng tốt khả năng tự kiềm chế, hy sinh bản thân, sống liên đới và sẵn sàng đẩy mạnh công ích1167.


557.Sự tham gia về mặt xã hội và chính trị của giáo dân trong lĩnh vực văn hoá ngày nay đang chuyển biến theo những hướng chuyên biệt. Trước tiên là cố gắng bảo đảm quyền có một nền văn hoá nhân bản và dân sự cho mỗi con người, “phù hợp với phẩm giá của con người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, quốc gia, tôn giáo hoặc những hoàn cảnh xã hội”1168. Quyền này bao hàm quyền của các gia đình và những con người được đi học trong các trường miễn phí và các trường mở; tự do tiếp cận với các phương tiện truyền thông xã hội, cũng như tránh được mọi hình thức độc quyền và kiểm soát về ý thức hệ trong lĩnh vực này; tự do nghiên cứu, chia sẻ tư tưởng, bàn cãi và thảo luận. Nhiều hình thức tước đoạt về văn hoá và không nhìn nhận các quyền lợi của văn hoá chính là nguồn phát sinh ra sự nghèo khổ của nhiều dân tộc. Sự dấn thân vào việc giáo dục và đào tạo con người luôn là mối quan tâm hàng đầu của hoạt động xã hội Kitô giáo.


558.Thách đố thứ hai cho sự dấn thân Kitô giáo liên quan đến nội dung của văn hoá, đó là sự thật. Vấn đề sự thật là cốt lõi của văn hoá vì vấn đề này nằm trong bổn phận của mỗi con người là phải duy trì một sự hiểu biết về con người toàn vẹn, trong đó các giá trị về trí tuệ, ý chí, lương tâm và tình huynh đệ là những nét nổi bật”1169. Một nền nhân học đúng đắn là tiêu chuẩn để soi chiếu và xác minh mọi hình thức lịch sử của văn hoá. Người Kitô hữu dấn thân trong lĩnh vực văn hoá để kiên quyết phản đối mọi viễn cảnh mang tính giản lược và ý thức hệ về con người và sự sống. Động lực thúc đẩy con người mở ra cho sự thật trên hết được bảo đảm bởi sự kiện là “các nền văn hoá khác nhau xét cho cùng là những phương thức đối mặt khác nhau một cách cơ bản trước vấn đề đi tìm ý nghĩa về sự hiện hữu của con người”1170.

559. Các Kitô hữu phải hoạt động sao cho toàn bộ giá trị về chiều hướng tôn giáo của văn hoá được nhìn nhận. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách đối với phẩm chất của cuộc sống con người, cả về mức độ cá nhân lẫn xã hội. Vấn đề phát sinh từ mầu nhiệm sự sống và quy chiếu về mầu nhiệm cao cả hơn là mầu nhiệm Thiên Chúa nằm ở vị trí trung tâm của mọi nền văn hoá. Khi vấn đề này bị loại bỏ thì nền văn hoá và đời sống luân lý của các dân tộc cũng bị suy đồi1171. Chiều hướng tôn giáo đích thực là thành phần thiết yếu của con người và cho phép con người triển khai các hoạt động đa dạng của mình hướng về một chân trời rộng lớn để tìm thấy ở đó ý nghĩa và hướng đi cho các hoạt động này. Tính tôn giáo hoặc tâm linh của con người được thể hiện thành những hình thức được một nền văn hoá tiếp nhận và chính nó lại đem đến sức sống và nguồn cảm hứng cho nền văn hoá đó. Vô số các công trình nghệ thuật của từng thời đại làm chứng cho điều này. Khi chiều hướng tôn giáo của con người hay của một dân tộc bị phủ nhận, chính văn hoá bắt đầu suy tàn, đôi khi biến mất hoàn toàn.


560. Trong việc thăng tiến một nền văn hoá đích thực, giáo dân sẽ đặt trọng tâm vào các phương tiện truyền thông đại chúng, và trên hết, bằng cách kiểm tra lại những nội dung của vô số những chọn lựa mà người ta thực hiện. Những lựa chọn này, mặc dầu khác nhau giữa nhóm này với nhóm khác, từ cá nhân này đến cá nhân kia, nhưng tất cả đều có một trọng lượng luân lý và cần được đánh giá theo tính luân lý này. Để chọn lựa một cách chính xác, mỗi người cần phải biết những chuẩn mực của trật tự luân lý và áp dụng chúng một cách trung thực1172. Giáo Hội trao tặng một truyền thống lâu dài về sự khôn ngoan, ăn rễ sâu trong Mạc Khải của Thiên Chúa và trong suy tư của con người1173, định hướng thần học của truyền thống này cung cấp một chức năng điều chỉnh quan trọng cho cả hai “giải pháp: một là giải pháp ‘vô thần’, đã tước đi một trong những chiều hướng cơ bản nơi con người, được gọi là chiều hướng tâm linh, và thứ hai là các giải pháp dễ dãi và hưởng thụ, dưới những chiêu bài khác nhau, tìm cách thuyết phục con người rằng họ được tự do đối với mọi luật lệ, kể cả đối với chính Thiên Chúa”1174. Thay vì phê phán các phương tiện truyền thông xã hội, truyền thống này được đưa ra để phục vụ chúng: “Nền văn hoá khôn ngoan của Giáo Hội có thể cứu nền văn hoá truyền thông đại chúng khỏi trở thành một thứ thu gom những sự việc một cách vô nghĩa”1175.


561. Tín hữu giáo dân sẽ coi các phương tiện truyền thông như những công cụ tạo nên và tăng cường sự liên đới: “Sự liên đới là kết quả của truyền thông chân thật, đúng đắn cũng như của sự trao đổi tự do các ý tưởng làm tăng thêm sự hiểu biết và tôn trọng đối với người khác”1176. Điều này thật không đúng nếu truyền thông đại chúng được dùng để xây dựng và duy trì những hệ thống kinh tế nhằm phục vụ cho sự tham lam và thèm khát. Đối diện với những bất công nghiêm trọng, việc quyết định làm ngơ hoàn toàn trước những khía cạnh đau khổ của con người phản ánh một sự chọn lựa không thể biện minh được1177. Các cơ cấu và chính sách truyền thông, cũng như sự phân phối kỹ thuật là những nhân tố giúp cho một số người trở nên “giàu thông tin” và cùng lúc những người khác trở nên “nghèo thông tin”, vào thời điểm mà sự phồn vinh, và ngay cả sự sống còn, đều tuỳ thuộc vào thông tin. Bằng cách này, các phương tiện truyền thông luôn góp phần tạo nên những bất công và mất quân bình, là những nguyên nhân đưa tới chính sự đau khổ mà chúng truyền thông. Kỹ thuật truyền thông và thông tin, cùng với việc đào tạo cách sử dụng nó, phải nhắm tới mục đích là xoá bỏ những bất công và mất quân bình như thế.


562. Không phải chỉ những nhà chuyên môn trong lĩnh vực truyền thông mới là những người duy nhất có bổn phận đạo đức. Những người sử dụng phương tiện truyền thông cũng có trách nhiệm. Những người điều hành truyền thông đại chúng cố gắng chu toàn các trách nhiệm của họ để xứng đáng nhận được sự ngưỡng mộ của khán thính giả, là những người ý thức về chính những trách nhiệm của họ. Bổn phận thứ nhất của những người sử dụng phương tiện truyền thông là nhận định và chọn lọc. Các bậc phụ huynh, các gia đình và Giáo Hội đều có những trách nhiệm rõ ràng không thể phủ nhận được. Lời cảnh báo của thánh Phaolô vang lên mạnh mẽ và rõ ràng cho những ai đang hoạt động với những khả năng khác nhau trong những lĩnh vực truyền thông xã hội: “Bởi vậy, hãy cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người lân cận, vì chúng ta là phần thân thể của nhau… Ước gì không có lời độc địa nào thốt ra từ môi miệng anh em, nhưng nếu cần hãy nói những gì tốt đẹp để xây dựng và giúp ích cho người nghe” (Ep 4,25.29). Phục vụ con người qua việc xây dựng cộng đồng nhân loại dựa trên nền tảng liên đới, công lý và tình yêu, cũng như phổ biến chân lý về cuộc sống con người và về sự hoàn tất sau cùng của cuộc sống ấy nơi Thiên Chúa, nằm ở ngay trung tâm của đạo đức trong các phương tiện truyền thông đại chúng1178. Trong ánh sáng đức tin, truyền thông của con người có thể được coi như một hành trình từ tháp Babel tới ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, hay nói đúng hơn, như là sự dấn thân của cá nhân và xã hội để vượt lên sự sụp đổ của truyền thông (x. St 11,4-8), mở đường cho con người đi vào quà tặng ngôn ngữ (x. Cv 2,5-11), đi vào sự truyền thông được phục hồi bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần do Chúa Con gửi đến.


3. Phục vụ trong lĩnh vực kinh tế


563.Đối diện với những phức tạp của bối cảnh kinh tế ngày nay, tín hữu giáo dân sẽ được các nguyên tắc của Huấn Quyền về xã hội dẫn dắt trong những hành động của họ. Nhất thiết phải biết đến và chấp nhận các nguyên tắc này trong chính lĩnh vực hoạt động kinh tế. Khi không biết đến các nguyên tắc ấy, trên hết là nguyên tắc con người phải là trọng tâm của mọi hoạt động kinh tế, thì phẩm chất của hoạt động kinh tế bị tổn thương1179.

Sự dấn thân của các Kitô hữu cũng sẽ được diễn tả thành một nỗ lực tư duy có tính văn hoá mà mục tiêu là phân định những mô hình phát triển kinh tế và xã hội đương thời. Giản lược chủ đề phát triển hoàn toàn vào vấn đề kỹ thuật sẽ tước đoạt nội dung đích thực của phát triển, một nội dung liên quan đến “phẩm giá của các cá nhân và dân tộc”1180.


564.Các nhà kinh tế, những người làm việc trong lĩnh vực này và những nhà lãnh đạo chính trị phải ý thức được nhu cầu cấp bách là phải xem xét lại nền kinh tế, một mặt là xét đến sự nghèo túng bi thảm về vật chất của hàng tỷ người, và mặt khác, xét đến một sự thật là “các cơ cấu kinh tế, xã hội, văn hoá hiện nay không được trang bị đầy đủ để đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển chính đáng”1181. Những yêu cầu hợp lý về năng suất kinh tế cần phải làm cho hài hoà hơn với những yêu cầu tham gia chính trị và công bằng xã hội. Nói một cách cụ thể, điều này có nghĩa là sự liên đới phải là thành phần không thể thiếu trong mạng lưới lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chính trị và xã hội mà tiến trình toàn cầu hoá hiện nay đang có khuynh hướng củng cố1182. Trong nỗ lực xem xét lại này, người ta thấy các thực thể kinh tế được tổ chức tốt và đang mang lại hiệu quả, các hiệp hội có nguồn cảm hứng Kitô giáo năng động trong lĩnh vực kinh tế – chẳng hạn như các tổ chức công nhân, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà kinh tế – đóng một vai trò quý giá.


4. Phục vụ trong lĩnh vực chính trị


565. Đối với tín hữu giáo dân, việc tham gia vào chính trị là một hành động thích đáng và đòi hỏi nhiều nỗ lực để biểu lộ sự dấn thân của Kitô hữu trong việc phục vụ người khác1183. Việc theo đuổi công ích trong tinh thần phục vụ, việc phát triển công lý với sự quan tâm đặc biệt đến những tình trạng đói nghèo và đau khổ, việc tôn trọng quyền tự trị của các thực tại trần thế, nguyên tắc bổ trợ, việc cổ vũ đối thoại và hoà bình trong bối cảnh của tình liên đới: đó là những tiêu chuẩn phải gợi hứng cho người giáo dân trong hoạt động chính trị của họ. Tất cả các tín hữu, trong tư cách là người có quyền lợi và bổn phận công dân, đều buộc phải tuân thủ những nguyên tắc hướng dẫn này. Còn những ai đang nắm giữ những vị trí trong các tổ chức xử lý các vấn đề phức tạp thuộc lĩnh vực công, bất kể trong bộ máy hành chính địa phương hay trong những cơ quan quốc gia và quốc tế, cần phải quan tâm đặc biệt để tuân thủ các nguyên tắc đó.

566. Những nhiệm vụ kèm theo các trách nhiệm trong các cơ quan xã hội và chính trị đòi hỏi một sự dấn thân triệt để và hài hoà, nghĩa là có khả năng chứng minh cách rõ ràng sự cần thiết tuyệt đối của chiều hướng đạo đức trong đời sống xã hội và chính trị, thông qua những đóng góp có suy nghĩ cho việc tranh luận, hoạch định và những hành động chọn lọc trong lĩnh vực chính trị. Việc không quan tâm đầy đủ tới chiều hướng luân lý dẫn đến một cuộc sống mất hẳn tính người trong xã hội cũng như trong các cơ quan xã hội và chính trị, từ đó củng cố “cấu trúc tội lỗi”1184. Sống và hành động phù hợp với lương tâm mỗi người trong các vấn đề chính trị không phải là sự chấp nhận mù quáng những lập trường xa lạ với chính trị hoặc chấp nhận một loại chủ thuyết xưng thú tội lỗi nào đó, nhưng là cách thức qua đó các Kitô hữu trao tặng sự cống hiến cụ thể, để thông qua đời sống chính trị, xã hội sẽ trở nên công bằng và nhất quán hơn với phẩm giá con người”1185.


567.Trong bối cảnh dấn thân chính trị của giáo dân, cần quan tâm đặc biệt đến việc chuẩn bị cho các tín hữu thực thi quyền hành sẽ nằm trong tay họ, đặc biệt khi họ được các công dân trao phó cho những bổn phận như thế theo quy luật của nền dân chủ. Họ cần phải biết đánh giá đúng hệ thống dân chủ “bao lâu hệ thống đó bảo đảm cho các công dân tham gia vào việc thực hiện các lựa chọn chính trị, bảo đảm cho người bị trị vừa có thể bầu cử và quy trách nhiệm những người cai trị mình, vừa có thể thay thế những người ấy thông qua các phương thế ôn hoà khi cần thiết”1186. Họ cũng cần loại bỏ những tổ chức bí mật muốn tìm ảnh hưởng hoặc lật đổ hoạt động của các cơ cấu hợp pháp. Việc thể hiện quyền hành phải có tính chất phục vụ và luôn được thực hiện trong bối cảnh các luật lệ luân lý nhằm đạt tới công ích1187. Những ai thực thi quyền hành chính trị cần phải thấy rằng những năng lực của tất cả các công dân được quy hướng tới công ích và họ thực hiện như thế không phải theo lối độc tài nhưng nhờ vào việc vận dụng sức mạnh luân lý được sự tự do hậu thuẫn.


568.Tín hữu giáo dân được mời gọi nhận dạng các bước có thể xúc tiến trong những tình huống chính trị cụ thể để đem áp dụng các nguyên tắc và giá trị đích thực cho cuộc sống xã hội. Điều này cần đến phương pháp phân định1188, ở cả cấp bậc cá nhân lẫn cộng đồng, phương pháp này được cấu tạo xoay quanh một số yếu tố chủ chốt: trước tiên là sự hiểu biết về những tình huống, các tình huống này được phân tích với sự trợ giúp của các ngành khoa học xã hội và các phương tiện thích hợp khác; tiếp theo là tư duy có hệ thống về những thực tại trong ánh sáng không thay đổi của sứ điệp Tin Mừng và của giáo huấn xã hội của Giáo Hội; sau cùng là việc nhận biết được những lựa chọn hướng đến việc chắc chắn rằng tình huống sẽ tiến triển theo hướng tích cực. Khi thực tại là đề tài được quan tâm cẩn thận và được giải thích cách thích hợp, thì những lựa chọn cụ thể và hiệu quả có thể được thực hiện. Dù vậy, những lựa chọn này không thể được coi là có giá trị tuyệt đối vì không có vấn đề nào có thể được giải quyết một lần là xong. “Niềm tin Kitô giáo không bao giờ nghĩ mình được quyền áp đặt một khuôn khổ cứng nhắc cho những vấn đề xã hội và chính trị, nhưng ý thức rằng chiều hướng lịch sử đòi buộc những người nam nữ phải sống trong những tình huống bất toàn, những tình huống sẵn sàng hứng chịu đổi thay”1189.


569.Một bối cảnh đặc biệt để thực hiện việc phân định có thể thấy trong sinh hoạt của hệ thống dân chủ, được nhiều người ngày nay biết đến dưới tên gọi là tình trạng bất khả tri và tương đối. Điều này dẫn tới việc tin rằng chân lý là điều gì đó được đa số quyết định và được quy định bởi những sự cân nhắc về chính trị1190. Trong những tình huống như thế, đặc biệt cần đến việc phân định, việc phân định này được thực hiện dựa trên sự đánh giá cách khách quan và chính xác của thông tin, của nghiên cứu khoa học và của những quyết định kinh tế ảnh hưởng đến đời sống của những người nghèo nhất. Việc phân định cũng đòi hỏi khắt khe như thế khi phải giải quyết những thực tại liên quan tới những bổn phận luân lý căn bản và không thể tránh được, như tính bất khả xâm phạm của sự sống, sự bất phân ly trong hôn nhân, việc thăng tiến gia đình xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ.

Trong những tình huống như thế, một vài tiêu chuẩn nền tảng thật hữu ích: sự phân biệt, và đồng thời, sự liên kết giữa trật tự pháp luật và trật tự luân lý; sự trung thành với bản sắc riêng của mình, và đồng thời, việc sẵn sàng dấn thân vào cuộc đối thoại với mọi người; trong phán đoán và hoạt động của các Kitô hữu, nhu cầu quy chiếu tới việc tuân thủ ba loại giá trị không thể tách rời nhau được: các giá trị tự nhiên xét về khía cạnh độc lập hợp pháp của những thực tại trần thế; các giá trị đạo đức cổ vũ cho chiều hướng đạo đức nội tại của mọi vần đề xã hội và chính trị; các giá trị siêu nhiên với mục đích là chu toàn bổn phận của mình trong tinh thần Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô.


570.Khi - xét tới các lĩnh vực hay thực tại có liên quan đến các bổn phận đạo đức căn bản - những lựa chọn pháp lý hay chính trị nào đi ngược lại với những nguyên tắc và giá trị Kitô giáo được đề nghị hoặc được thực hiện, Huấn Quyền dạy rằng “một lương tâm Kitô hữu được giáo dục tốt không cho phép người đó bỏ phiếu thuận cho một chương trình chính trị hoặc cho một luật lệ cá thể đi ngược lại với những nội dung căn bản của niềm tin và luân lý”1191. Trong những trường hợp không thể tránh được việc thực hiện các chương trình chính trị như thế hoặc không thể cản trở hoặc bãi bỏ những luật này, Huấn Quyền dạy rằng một đại biểu quốc hội tuyệt đối phản kháng các chương trình hoặc những luật lệ ấy cách rõ ràng và công khai, thì vị đại biểu này có thể ủng hộ một cách hợp pháp những đề nghị có mục đích giới hạn thiệt hạiphát sinh từ những chương trình và luật lệ đó và có mục đích giảm thiểu những hậu quả tiêu cực về mặt văn hoá và đạo đức quần chúng. Về phương diện này, một ví dụ điển hình cho trường hợp như thế là khoản luật cho phép phá thai1192. Trong bất cứ trường hợp nào, phiếu của đại biểu không thể được hiểu là việc ủng hộ cho một luật lệ bất công nhưng chỉ có thể được hiểu như là sự đóng góp vào việc giảm thiểu những hậu quả tiêu cực của một điều khoản pháp lý, còn trách nhiệm về khoản luật này hoàn toàn thuộc về những ai đưa nó vào hiện thực.

Đối mặt với những tình huống liên quan tới những bổn phận căn bản và hết sức cần thiết của luân lý, cần nhắc lại rằng việc làm chứng của Kitô hữu được coi là một bổn phận nền tảng, bổn phận này thậm chí có thể dẫn tới việc hy sinh mạng sống mình, tới việc tử vì đạo nhân danh tình yêu và phẩm giá con người1193. Lịch sử của 20 thế kỷ đã qua, cũng như thế kỷ vừa qua, đầy dẫy những vị tử vì đạo cho sự thật Kitô giáo. Họ là những chứng nhân của niềm tin, của hy vọng và tình yêu được xây dựng trên nền tảng Tin Mừng. Ân phúc tử vì đạo là một bằng chứng của người được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô chịu đóng đinh, biểu hiện bằng hình thức cao cả nhất là đổ máu mình ra theo đúng giáo huấn của Tin Mừng: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi... nó sẽ sinh nhiều bông hạt” (Ga 12,24).


571. Sự dấn thân về mặt chính trị của những tín hữu Công giáo thường được đặt trong bối cảnh “quyền tự chủ” của Nhà Nước, nghĩa là phân biệt giữa các lĩnh vực chính trị và tôn giáo1194. Sự phân biệt ấy “là một giá trị mà Giáo hội Công giáo đã đạt được và nhìn nhận, và thuộc về di sản của một nền văn minh hiện đại”1195. Tuy nhiên, học thuyết xã hội bác bỏ một cách rõ ràng những viễn tượng của quyền tự chủ được hiểu theo nghĩa độc lập với luật luân lý: “Sự ‘tự chủ’ này trước tiên quy chiếu tất cả về thái độ của con người tôn trọng những sự thật phát xuất từ sự hiểu biết tự nhiên có liên quan đến đời sống con người trong xã hội, ngay cả khi những sự thật ấy có thể được dạy bởi một tôn giáo riêng biệt, vì sự thật là chỉ có một”1196. Việc chân thành truy tìm sự thật, sử dụng những phương tiện hợp pháp nhằm đẩy mạnh và bảo vệ những sự thật luân lý liên quan đến đời sống xã hội – công lý, tự do, tôn trọng sự sống và những quyền lợi của người khác – là một quyền lợi và bổn phận của mọi thành viên của cộng đồng xã hội và chính trị.

Khi can thiệp vào những vấn đề có liên quan đến đời sống xã hội và chính trị, Huấn Quyền Giáo Hội không thể không tuân thủ các đòi hỏi của quyền tự chủ hiểu theo nghĩa đúng, vì “Huấn Quyền Giáo Hội không muốn thể hiện quyền lực chính trị hoặc khai trừ sự tự do tư tưởng của các tín hữu Công giáo liên quan đến những vấn đề hữu hạn. Thay vào đó, Huấn Quyền - theo đúng chức năng của mình - chỉ dạy và soi sáng các lương tâm của người tín hữu, đặc biệt những người có liên quan đến đời sống chính trị, để hành động của họ luôn phục vụ cho công cuộc thăng tiến toàn diện con người và công ích. Học thuyết xã hội của Giáo hội không phải là một sự xâm phạm vào chính quyền của các quốc gia riêng biệt. Đây là vấn đề bổn phận của người tín hữu Công giáo để nhất quán về mặt luân lý, bổn phận này được tìm thấy trong lương tâm duy nhất và không thể tách biệt của mỗi con người”1197.


572. Nguyên tắc tự chủ liên quan đến việc Nhà Nước phải tôn trọng mọi niềm tin tôn giáo, sự tôn trọng này “bảo đảm cho những cộng đồng tín hữu được tự do thi hành những sinh hoạt nghi lễ tâm linh, văn hoá và bác ái của mình. Trong một xã hội đa nguyên, thế tục là một nơi dành cho sự giao lưu giữa những truyền thống tâm linh khác nhau với Nhà Nước”1198. Tiếc thay, ngay cả trong xã hội dân chủ, vẫn còn những biểu hiện bất bao dung mang tính thế tục, thù nghịch đến độ từ chối bất cứ hình thức nào liên quan đến niềm tin tôn giáo về mặt chính trị và văn hoá. Một sự bất bao dung như thế tìm cách khai trừ hoạt động của các Kitô hữu ra khỏi các lĩnh vực xã hội và chính trị, vì những Kitô hữu cố gắng gìn giữ những sự thật được Giáo Hội chỉ dạy và tuân thủ bổn phận luân lý để hành động cho phù hợp với lương tâm của họ. Những thái độ thù nghịch đó thậm chí đã tiến xa tới mức phủ nhận cách cực đoan nền tảng của luân lý tự nhiên. Sự phủ nhận này là dấu hiệu báo trước sự hỗn loạn về luân lý với hậu quả đương nhiên là kẻ mạnh sẽ lấn át người yếu, điều đó không thể được chấp nhận dưới bất cứ hình thức nào bởi chủ nghĩa đa nguyên hợp pháp, vì nó làm xói mòn những nền móng thực sự của xã hội loài người. Trong sự hiểu biết tình trạng của những sự việc này, “việc gạt Kitô giáo ra bên lề… không báo trước điềm hay cho tương lai hay cho sự đồng thuận giữa các dân tộc; thực ra, nó còn đe doạ chính những nền tảng tinh thần và văn hoá của nền văn minh”1199.


573. Một lĩnh vực đặc biệt cho sự phận định về phía tín hữu giáo dân liên quan tới việc lựa chọn những phương tiện chính trị, nghĩa là việc làm thành viên trong một đảng phái hay trong những hình thức tham gia chính trị khác. Đây phải là một lựa chọn nhất quán với các giá trị và lưu tâm đến những hoàn cảnh hiện nay. Trong bất cứ trường hợp nào, mỗi lựa chọn được thực hiện phải bắt nguồn từ lòng bác ái và hướng tới việc đạt được công ích1200. Một thực thể chính trị duy nhất khó có thể đáp ứng đầy đủ những mối quan tâm của niềm tin Kitô giáo; việc yêu cầu một đảng phái hay một liên minh chính trị đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của niềm tin hoặc của đời sống Kitô hữu có thể làm tăng lên những sai lầm nguy hiểm. Các Kitô hữu không thể tìm được một đảng phái hoàn toàn phù hợp với tất cả những yêu cầu đạo đức phát xuất từ niềm tin và từ tư cách là thành phần trong Giáo Hội. Sự gắn bó của họ với một tổ chức chính trị sẽ không bao giờ mang tính ý thức hệ nhưng luôn với tinh thần phê phán; bằng cách này, đảng phái và chính trường của đảng phái sẽ được thúc bách để càng ý thức hơn trong việc đem đến công ích thật sự, bao gồm cả cứu cánh thiêng liêng của con người1201.


574.Cần phải phân biệt một bên là những đòi hỏi của niềm tin và những lựa chọn chính trị - xã hội, và bên kia là những lựa chọn được thực hiện bởi các cá nhân Kitô hữu và cộng đồng tín hữu với đầy đủ tư cách của nó. Sự phân biệt ấy có nghĩa là việc gia nhập làm thành viên trong một đảng phái hoặc trong một liên minh chính trị phải được coi như một quyết định cá nhân, mang tính hợp pháp ít là trong giới hạn của các đảng phái và của những lập trường không đối nghịch với niềm tin và các giá trị Kitô giáo1202. Tuy nhiên, việc chọn lựa một đảng phái, một liên minh chính trị, và cả những con người mà cuộc sống công chúng được trao phó cho họ tuy có liên quan đến lương tâm của mỗi người, nhưng không bao giờ có thể là một lựa chọnhoàn toàn cá nhân. “Đây là việc của cộng đồng Kitô hữu để phân tích một cách khách quan tình trạng đặc biệt của riêng đất nước họ, để chiếu rọi lên tình trạng đó ánh sáng của lời bất diệt là chính Tin Mừng và để rút ra từ giáo huấn xã hội của Giáo Hội những nguyên tắc tư duy, những tiêu chuẩn phán đoán và những hướng dẫn cho hành động”1203. Trong bất cứ trường hợp nào, “không ai được phép khẳng định rằng ý kiến của riêng mình chính là ý kiến của thẩm quyền trong Giáo Hội”1204; các tín hữu tốt hơn là nên “cố gắng hướng dẫn nhau qua đối thoại chân thành trong tinh thần bác ái hỗ tương và với mối bận tâm lo tìm công ích trước tiên”1205.

----------------------------------------------------------------------------------------------------

1138 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 3: AAS 83 (1991), 796.

1139 CĐ. Vatican II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 31: AAS 57 (1965), 37.

1140 CĐ. Vatican II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 31: AAS 57 (1965), 37.

1141 Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 15: AAS 81

(1989), 415.

1142 x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 24: AAS

81 (1989),433, 435.

1143 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 76: AAS 58 (1965), 1099.

1144 CĐ. Vatican II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, 31: AAS 57 (1965), 37-38.

1145 Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 59: AAS 81

(1989), 509.

1146 x. Giáo lý Giáo hội Công giáo, 1806.

1147 Việc rèn luyện tính thận trọng đòi hỏi việc đào tạo liên tục nhằm thu được những phẩm chất cần thiết: “trí nhớ” là khả năng nhớ kinh nghiệm của bản thân một các khách quan, không xuyên tạc (x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 49, a. 1: Ed. Leon. 8, 367); “tính dễ dạy” cho ta học hỏi nơi những người khác và làm lợi từ kinh nghiệm của họ dựa trên nền tảng của một tình yêu xác thực dành cho sự thật (x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 49, a. 1: Ed. Leon. 8, 368-369); “sự chuyên cần” là khả năng đối diện với sự bất trắc một các khách quan nhằm đưa mọi tình huống để phục vụ cho thiện ích, vượt qua cám dỗ của tính thất thường, bất công và hèn nhát (x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 49, a. 1: Ed. Leon. 8, 369-370). Những khuynh hướng nhận thức này cho phép phát triển những điều kiện cần thiết cho quyết định hiện tại: “sự lo xa” là khả năng cân nhắc hiệu lực của một chỉ dẫn được đưa ra để hoàn thành một mục đích đạo đức (x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 49, a. 6: Ed. Leon. 8, 367) và “sự thận trọng” hoặc khả năng cân nhắc những tình huống để đóng góp cho sự sáng tạo của tình thế trong đó một hành động được đưa ra sẽ được thực hiện (x. Thánh Tôma Aquinô,Summa Theologiae, II-II, q. 49, a. 7: Ed. Leon. 8, 372). Trong bối cảnh xã hội, tính thận trọng cần được chỉ rõ dưới hai hình thức: thận trọng “triều chính”, đó là khả năng sắp xếp mọi việc cho sự thiện ích nhất của xã hội (x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 50, a. 1: Ed. Leon. 8, 374), và thận trọng “chính trị” để hướng dẫn các công dân vâng phục, thực hiện những chỉ dẫn của quyền hành (x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 50, a. 2: Ed. Leon. 8, 375), mà không làm tổn thương phẩm giá của con người (x. Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, qq. 47-56: Ed. Leon. 8, 348-406).

1148 x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 30: AAS

81 (1989), 446-448.

1149 Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 62: AAS 81

(1989), 516-517.

1150 x. Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra: AAS 53 (1961) 455.

1151 Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 29: AAS 81

(1989), 443.

1152 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 76: AAS 58 (1966), 1099.

1153 Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra: AAS 53 (1961) 454; Gioan Phaolô II,

Thông điệp Centesimus Annus, 57: AAS 83 (1991), 862-863.

1154 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 91: AAS 58 (1966), 1113.

1155 Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 37: AAS 81

(1989), 460.

1156 Piô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno: AAS 23 (1931), 218.

1157 Piô XI, Thông điệp Quadragesimo Anno: AAS 23 (1931), 218.

1158 x. Bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị Donum Vitae, (22-02-1987): AAS 80 (1988) 70-102.

1159 Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 39: AAS 81

(1989), 466.

1160 x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 39: AAS

81 (1989), 466.

1161 x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Familiaris Consortio, 42-48:

AAS74 (1982), 134, 140.

1162 x. CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 43: AAS 58 (1966), 1062.

1163 Gioan Phaolô II, Gửi cho UNESCO (23-06-1980), 7: L’Observatore Romano, Bản

Anh ngữ, 23-06-1980, tr. 9.

1164 x. Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 7: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 15.

1165 x. CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 59: AAS 58 (1966), 1079-1080.

1166 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 50: AAS 83 (1991), 856.

1167 x. Gioan Phaolô II, Gửi cho UNESCO (02-06-1980), 7: L’Observatore Romano, Bản

Anh ngữ, 23-06-1980, tr. 10.

1168 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 60: AAS 58 (1966), 1081.

1169 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 61: AAS 58 (1966), 1082.

1170 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 24: AAS 83 (1991), 822.

1171 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 24: AAS 83 (1991), 821-822.

1172 x. CĐ. Vatican II, Sắc lệnh Inter Mirifica, 4: AAS 56 (1964), 146.

1173 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Fides et Ratio, 36-48: AAS 91 (1999), 33-34.

1174 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 55: AAS 83 (1991), 861.

1175 Gioan Phaolô II, Thông điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội năm 1999, 3:

L’Observatore Romano, Bản Anh ngữ, 03-02-1999, tr. 1-2.

1176 Giáo lý Giáo hội Công giáo, 2495.

1177 x. Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Huấn thị Đạo đức trong Truyền

thông (4-6-2000), 14, Libreria Editrice Vaticana, Vatican City 2002, tr. 14-16.

1178 x. Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Huấn thị Đạo đức trong Truyền

thông (4-6-2000), 33, Libreria Editrice Vaticana, Vatican City 2002, tr. 40.

1179 x. Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 3: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 8.

1180 Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, 41: AAS 80 (1988), 570.

1181 Gioan Phaolô II, Thông điệp ngày Thế giới Hoà bình năm 2000, 14: AAS 92

(2000), 366.

1182 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp ngày Thế giới Hoà bình năm 2000, 17: AAS 92

(2000), 367-368.

1183 x. Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens, 46: AAS 63 (1971), 433-436.

1184 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, 36: AAS 80 (1988), 561-563.

1185 Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 6: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 13.

1186 Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 46: AAS 83 (1991), 850.

1187 x. CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 74: AAS 58 (1966), 1095-1097.

1188 x. Bộ Giáo dục Công giáo, Hướng dẫn học tập và giảng dạy Học thuyết Xã hội

của Giáo Hội trong việc Đào tạo Linh Mục, 8, Vatican Polyglot Press, Roma

1988, tr. 13-14.

1189 Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 7: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 15-16.

1190 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus Annus, 46: AAS 83 (1991), 850-851

1191 Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 4: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 9.

1192 x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, 73: AAS 87 (1995), 486-487.

1193 x. Gioan Phaolô II, Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici, 39: AAS

81 (1989), 466-468.

1194 x. CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 76: AAS 58 (1966), 1099-1100.

1195 Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 6: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 11.

1196 Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 6: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr.12.

1197 Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002), 6: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 12-13.

1198 Gioan Phaolô II, Diễn văn gửi Ngoại giao Đoàn (12-01-2004), 3: L’Observatore

Romano, Bản Anh ngữ, 21-01-2004, tr. 3.

1199 Bộ Giáo lý Đức tin, Ghi chú học thuyết về vài vấn đề liên quan đến sự tham gia

của các Kitô hữu trong Đời sống Chính trị (24-11-2002, 6: Libreria Editrice

Vaticana, Vatican City 2002, tr. 14.

1200 x. Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens, 46: AAS 63 (1971), 433-435.

1201 x. Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens, 46: AAS 63 (1971), 433-435.

1202 x. Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens, 50: AAS 63 (1971), 439-440.

1203 Phaolô VI, Tông thư Octogesima Adveniens, 46: AAS 63 (1971), 403-404.

1204 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 43: AAS 58 (1966), 1063.

1205 CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 43: AAS 58 (1966), 1063.

Bài viết cùng chuyên mục